第9回  工業:環境汚染 Công nghiệp: Ô nhiệm môi trường

 

日本の科学技術は世界最高の水準にあります。そして、その成果としての工業製品は機械、金属、化学をはじめ世界各国に輸出され、私たちの生活を豊かにしています。しかし、その栄光の裏には環境汚染による深刻な公害病が発生したことも忘れてはなりません。

 

特に1955年から1973年ごろまでの高度経済成長期には工業が急速に発展し、全国に多くの工場が建てられました。ところが、工場の周りでは廃液や煙、自動車の排気ガスなどによって水や空気、土が汚染され、公害病が発生しました。住民や工場で働く人たちが近くの海や川で汚れた魚を食べ続けたり、汚れた空気を吸ったりした結果、重い病気になって苦しみ、命を失ってしまう人が大勢出たのです。

 

中でも四大公害病(よんだいこうぎょびょう)と呼ばれる熊本県の水俣病(みなまたびょう)、三重県の四日市(よっかいち)ぜんそく、富山県のイタイイタイ病、新潟県の新潟水俣病は極めて深刻で、現在も多くの人が苦しんでいます。

 

 

【説明】

 

*高度経済成長期  Thời kỳ Tăng trương Kinh tế cao 

日本は、1950年代後半から第4次中東戦争(1973年)の影響による石油危機までの時期に国民総生産(GNP)の年平均10%を維持する高い経済成長を遂げました。この時期は高度経済成長期と呼ばれ、1950年代の戦後復興が終わり、石炭から石油へのエネルギー転換や生産技術革新による大量生産、大量消費生活の出現が高い経済成長をもたらされた時期です。第一次産業の比重は下がり、代わりに第二次・第三次産業が高まりました。この時期の生産・消費、輸出・輸入の構造が日本経済力の基盤となりました。

Nhật Bản đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, duy trì mức tăng GNP (Tổng sản phẩm quốc dân) trung bình hàng năm là 10% trong giai đoạn từ nửa cuối những năm 1950 cho đến cuộc Khủng hoảng Dầu mỏ do ảnh hưởng của Chiến tranh Trung Đông lần thứ Tư (năm 1973).Giai đoạn này được gọi là Thời kỳ tăng trưởng kinh tế cao độ. Đây là thời kỳ mà sự phục hồi sau chiến tranh kết thúc vào những năm 1950, cùng với sự chuyển đổi năng lượng từ than đá sang dầu mỏ, và sự xuất hiện của việc sản xuất hàng loạt, tiêu thụ hàng loạt nhờ đổi mới công nghệ sản xuất, và chính điều này đã khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Tỷ trọng của các ngành công nghiệp thứ nhất giảm sút, thay vào đó là các ngành công nghiệp thứ hai và thứ ba phát triển. Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng, xuất khẩu và nhập khẩu trong giai đoạn này đã trở thành nền tảng cho sức mạnh kinh tế của Nhật Bản. 

 

*四大公害病    Bốn căn bệnh ô nhiễm chính của Nhật Bản

熊本県の海で起きた公害が原因となった病気が「水俣病」です。化学工場から流された水に有機水銀(ゆうきすいぎん)という毒物が混ざっていました。魚にその毒が取り込まれ、食べた人の手足がしびれ、体が動かなくなり、死ぬこともありました。この水俣病は新潟県でも起こり、「新潟水俣病」と呼ばれています。 

Bệnh Minamata là một căn bệnh do ô nhiễm ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Kumamoto.  Nước thải từ một nhà máy hóa chất đã bị pha trộn với một loại chất độc gọi là thủy ngân hữu cơ. Chất độc này đã bị cá hấp thụ, và những người ăn phải cá này bị tê liệt chân tay bất động, và có khi tử vong. Căn bệnh Minamata này cũng xảy ra ở tỉnh Niigata, nên được gọi là bệnh Niigata Minamata. 

 

 

 

 

富山県でも公害病が起こりました。山で鉱石をとる時に出る排水にカドミウムという金属が混じり、その水が川に流れこんだため、川の下流でとれた米を食べた人の骨がもろくなって強い痛みが出ました。患者はちょっとしたクシャミでも「痛い!痛い!」と悲鳴を上げたのです。また、三重県では石油化学工場などから出る煙で大気が汚染され、ぜんそくで苦しむ「四日市ぜんそく」が起こりました。

Các bệnh liên quan đến ô nhiễm cũng xảy ra ở tỉnh Toyama. Khi khai thác quặng trên núi, nước thải chứa kim loại cadmium bị lẫn vào, rồi chảy ra sông. Điều này khiến người dân ăn gạo thu hoạch ở hạ lưu bị giòn xương và đau đớn dữ dội. Ngay cả một cái hắt hơi nhẹ cũng khiến bệnh nhân hét lên đau đớn: "Ôi đau quá!". Còn ở tỉnh Mie, ô nhiễm không khí do khói từ các nhà máy hóa dầu đã dẫn đến sự bùng phát của "Bệnh hen suyễn Yokkaichi", một căn bệnh khiến người dân mắc phải vô cùng khổ sở.

 

 

公害による住民への健康被害は高度経済成長のマイナス面を明確に示すもので、重化学工業の工場が大量に捨てた排水や排煙がもとで引き起こされました。公害を告発し、補償を求める住民運動も起こりましたが、企業側は初めは責任を認めませんでした。しかし、被害者の病状が医学的に解明されたことにより、1970年代になって原告勝訴の判決が相次ぎ、公害の企業責任が社会的に確立しました。

Những tổn hại về sức khỏe mà người dân phải chịu do ô nhiễm môi trường đã cho thấy một cách rõ ràng mặt trái của giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Nguyên nhân chính là do lượng lớn nước thải và khói thải từ các nhà máy công nghiệp nặng được xả ra môi trường. Mặc dù đã có các phong trào của người dân đứng lên tố cáo ô nhiễm và đòi bồi thường, nhưng ban đầu phía doanh nghiệp đã từ chối nhận trách nhiệm. Tuy nhiên, sau khi tình trạng bệnh lý của các nạn nhân được giới y học làm sáng tỏ, một loạt phán quyết có lợi cho nguyên đơn đã liên tiếp được đưa ra vào những năm 1970, từ đó trách nhiệm của doanh nghiệp đối với ô nhiễm môi trường đã được xã hội công nhận.